Header-01
Đăng nhập

Các vị thuốc mang tên Rồng

VOH - Là biểu trưng của sự cao đẹp, may mắn, cùng khả năng mầu nhiệm và sức sống bất diệt, con rồng (long) được lấy làm danh nghĩa cho tên của nhiều vị thuốc quý của Việt Nam.

Ban Long

Ban long nghĩa là rồng đốm, rồng khoang. Vị thuốc bổ rất quý này là một thứ cao chế từ gạc (sừng) con hươu sao (vì hươu có đốm nên gọi là ban long - rồng đốm). Cao ban long dùng để bồi dưỡng sức khỏe và chữa được nhiều bệnh, đặc trị các chứng suy nhược, gầy yếu, mồ hôi trộm, đi tiểu nhiều, chân tay nhức mỏi, ho lao, ho gà, chảy máu dạ dày, nôn ra máu.

Đại y sư Hải Thượng Lãn Ông còn kết hợp cao ban long với long nhãn để tăng tác dụng của chúng, tạo ra một vị thuốc mới gọi là nhị long ẩm (thuốc uống chế từ hai loại rồng).

Địa long

Địa long nghĩa là rồng sống trong đất. Vị thuốc này chế bằng cách đem con giun đất rửa sạch, mổ bỏ nội tạng, phơi hay sấy khô rồi tán thành bột hoặc sắc uống.

Địa long dùng chữa nhức đầu, hoa mắt, sốt rét, cương cứng mạch máu, cao huyết áp rất công hiệu. Nó cũng có tác dụng tốt đối với những người bị bệnh gan.

Hải long

Hải long nghĩa là rồng biển. Đây là loài động vật không xương sống và có màu sắc thay đổi theo màu rong biển nơi nó sống.

Hải long dài 20-35 cm, có mũi dài và mỏ giống như cái ống, trên thân có nhiều dải tua mảnh dẻ. Con cái đẻ trứng vào túi dưới bụng con đực. Hải long con phát triển từ mầm phôi trong túi đó và sau 6-7 tháng mới rời khỏi cha.

Hải long được dùng làm thuốc bổ dưới dạng nguyên con còn tươi ngâm vào rượu mạnh hoặc đem phơi sấy khô rồi sắc uống, có tác dụng bồi dưỡng cho người già, ốm yếu và chữa các bệnh thần kinh, suy nhược.

Các vị thuốc mang tên RồngXem toàn màn hình
Hải Long là loài động vật không xương sống và có màu sắc thay đổi theo màu rong biển nơi nó sống

Long diên hương

Long diên hương nghĩa là nước có mùi thơm của rồng. Đây là dung dịch lấy từ cá voi và thường được dùng làm hương liệu trong sản xuất nước hoa.

Theo y học cổ truyền, long diên hương có tác dụng hành khí, hoạt huyết, giảm đau, được sử dụng để chữa các chứng ho, hen, nấc, đau vùng tim, đau bụng, với liều dùng 0,3-1,5 g mỗi lần.

Long y

Long y nghĩa là áo của rồng. Vị thuốc này thực ra là xác con rắn lột được dùng bôi xoa bên ngoài làm thuốc sát trùng, trị ghẻ lở hoặc dùng uống để chữa đau cổ họng và trẻ con động kinh co giật.

Thiên long

Thiên long nghĩa là rồng trời. Đây chính là con rết. Thiên long tươi đem ngâm rượu hoặc phơi sấy khô, có vị cay, hơi mặn, tính ấm, hơi độc, mang tác dụng khử phong, trấn kinh, giải độc, sát khuẩn.

Thiên long ngâm dùng để chữa chín mé - đầu ngón tay sưng đau (đem phơi sấy khô, tán bột, hòa với mật lợn, bôi nhiều lần trong ngày), trị mụn nhọt sưng đỏ, đau nhức, áp xe (dùng con to ngâm lâu trong rượu mạnh, ngày bôi 1-2 lần), chữa trĩ (đem sấy khô, tán mịn, trộn với ít bột long não, bôi hàng ngày), trị ung nhọt, mụn mạch lươn ở trẻ em, chữa liệt thần kinh, đau nhức, tê thấp, kinh phong, co giật, cấm khẩu.

Long cốt

Long cốt nghĩa là xương rồng, còn gọi là cây xương rồng ông, bá vương tiên. Đây là loài cây thân mọng nước, cao vài mét, chia cành nhiều, mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh, làm hàng rào.

Thân và cành cây xương rồng dùng chữa đòn ngã, sưng đau, mụn nhọt, viêm mủ da, herpes, đau răng, sâu răng, đau lưng, thống phong. Lá chữa bí đại và tiểu tiện do tích ứ gây ra, đinh sang, nhọt độc. Nhựa dùng để tẩy, trị xơ gan, cổ trướng, ngứa, nấm ngoài da, mụn cóc trên da, báng, thấp khớp, đau răng.

Các vị thuốc mang tên Rồng 2
Long cốt nghĩa là xương rồng

Long đởm thảo

Long đởm thảo nghĩa là cỏ mật rồng. Đây là loài cây thảo, sống lâu, cao 40-60 cm, mọc rải rác khắp cả nước, nhiều nhất ở Tây Nguyên.

Long đởm thảo mang vị đắng, tính hàn, vào ba kinh can, đởm và bàng quang, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, an thần, lợi tiểu, tiêu thực, tiêu viêm, trị nhọt độc, sưng lở. Có thể dùng cả ở dạng tươi (giã nát lấy bã đắp, nước uống) hoặc khô (phơi sấy rồi tán bột bôi hoặc sắc nước uống).

Long huyết

Long huyết nghĩa là máu rồng, còn gọi là cây huyết dụ, thiết thụ. Long huyết mang vị nhạt, tính mát, bình, vào hai kinh can và thận, có tác dụng làm mát, cầm máu, tan ứ máu, giảm đau.

Lá long huyết dùng làm thuốc chữa rong huyết, băng huyết (không được dùng trước khi đẻ hoặc đẻ rồi còn sót rau), xích bạch đới, thổ huyết, lỵ ra máu, đái ra máu, trĩ, ho ra máu, sốt xuất huyết. Rễ và lá chữa vết thương, phong thấp đau nhức. Liều lượng dùng mỗi ngày là 8-16 g rễ, lá khô hoặc 16-30 g lá tươi.

Long não

Long não nghĩa là óc rồng. Vị thuốc này là một chất óng ánh màu trắng, chiết xuất từ lá, cành, thân, rễ của cây long não hay chương não - vốn mọc hoang dại hoặc được trồng phổ biến ở các địa phương miền Bắc nước ta.

Là thuốc trợ tim, long não được sử dụng làm thành phần chính để điều chế các loại thuốc bổ tim, hồi tim, ngừa suy tim. Trong y học dân gian, long não thường được dùng làm thuốc xoa bóp, chữa đau nhức, thấp khớp và sát trùng.

Long nha thảo

Long nha thảo nghĩa là cỏ răng rồng. Loài cây thảo này sống lâu, cao 40-50 cm, mọc ở vùng đồi núi miền Bắc.

Dùng dưới dạng phơi sấy khô rồi sắc uống, long nha thảo mang vị đắng, chát, tính ấm, vào bốn kinh tâm, phế, can và thận, có tác dụng thu liễm, chỉ huyết, chỉ lỵ, giải độc, nên dùng chữa trị nổi hạch, tràng nhạc, mụn nhọt, chảy máu cam, thổ huyết, băng huyết, đại tiện ra máu… rất hiệu quả.

Các vị thuốc mang tên Rồng
Long nha thảo có thân mọc đứng màu đỏ nhạt, có vạch dọc và lông trắng. Lá kép mọc so le, mép lá hình răng nhọn

Long nhãn

Long nhãn nghĩa là mắt rồng. Vị thuốc này chính là cùi quả nhãn phơi hoặc sấy khô. Lành và bổ, nó được dùng để tăng lực, đồng thời đặc trị những bệnh về thần kinh (mất ngủ, hay hoảng hốt, hồi hộp, thần kinh suy nhược, rối loạn nhịp tim...).

Thanh long

Thanh long nghĩa là rồng xanh. Đây là loài cây leo bám, được trồng nhiều ở các tỉnh từ Ninh Thuận trở vào Nam. Thanh long mang vị ngọt, tính hơi hàn.

Quả thanh long khá ngon, mát, có tác dụng giải khát, giải nhiệt, lợi tiểu, nhuận tràng. Hoa thanh long có tác dụng thanh nhiệt, dưỡng âm, giải độc, chỉ khái (ngừng ho).

Phục long can

Phục long can nghĩa là gan của con rồng đang ngủ. Vị thuốc này chế từ đất lấy giữa lòng bếp. Dùng dưới dạng thuốc sắc để uống, phục long can chữa trị công hiệu bệnh thổ huyết, băng huyết, tiểu tiện ra huyết và các chứng nôn mửa, đầy bụng, ợ chua.

Ô long vĩ

Ô long vĩ nghĩa là đuôi con rồng đen. Vị thuốc này chính là bồ hóng bám dính vào mạng nhện trên những bếp đun bằng củi, rơm rạ, cỏ lá... Là thứ than thảo mộc rất mịn, nhỏ, sạch, khô, nó được dùng để sát trùng và cầm máu cực tốt.

Bình luận